Toạ đàm khoa học: Câu chuyện cuộc đời: Lý thuyết, cách tiếp cận và thực tiễn nghiên cứu (trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chống Trung Quốc ở Vạn Vĩ, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc

Sáng ngày 21/07/2015, tại phòng A001, PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hoá, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, đã trình bày nghiên cứu: “Câu chuyện cuộc đời: Lý thuyết, cách tiếp cận và thực tiễn nghiên cứu (trường hợp phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc ở Vạn Vĩ, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc”.

Đến dự toạ đàm có TS. Nguyễn Ngọc Thơ – Trưởng phòng, TS. Trần Anh Tiến, ThS. Trần Thị Kim Anh – Phó Trưởng phòng QLKH-DA; TS. Huỳnh Ngọc Thu – Trưởng khoa Nhân học, TS. Nguyễn Thị Hồng Xoan – Trưởng khoa Xã hội học, PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân, TS. Phạm Thanh Duy – Phó Trưởng Khoa Nhân học cùng các giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh Khoa Xã hội học, Nhân học, Công tác Xã hội, Việt Nam học, Đô thị học.


Toạ đàm thu hút được nhiều giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh đến tham dự. Ảnh: Việt Thành

PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm chia sẻ kinh nghiệm trong xác định chủ đề nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu (tính mới trong nghiên cứu nắm ở vấn đề nghiên cứu, mới ở cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, chứ không nằm trong chủ đề hay địa bàn nghiên cứu, đó chính là yếu tố làm nên thành công của nghiên cứu). Nhất là trong vấn đề hôn nhân dựa trên cách tiếp cận về câu chuyện cuộc đời của những người lấy chồng Trung Quốc ở Vạn Dĩ, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc của người phụ nữ Việt Nam.


PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm trình bày nghiên cứu. Ảnh: Việt Thành

Bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu giới thiệu về đời sống của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc và hiện sống tại một làng biển nhỏ có tên là Vạn Vĩ, nằm cách biên giới Việt Trung – 25km. Vạn Vĩ là một làng người Kinh nằm ở Trung Quốc, ngay gần biên giới Việt - Trung. Ngôi làng nằm ở Trung Quốc, điểm dừng chân trong tuyến du lịch Hà Nội - Quảng Tây. Người Kinh làng Vạn Vĩ xem Việt Nam là quê mẹ thân thiết nhưng hình ảnh cố hương thì mờ nhạt. Nghiên cứu này tìm hiểu và về đời sống hàng ngày, điều kiện kinh tế, công việc, những mối quan hệ gia đình và xã hội của họ ở Vạn Vĩ và nghiên cứu cả mối quan hệ với gia đình của họ ở Việt Nam. Những người phụ nữ này sống vất vả ở Việt Nam và Trung Quốc, là người nghèo, không học vấn, không có hộ khẩu ở Vạn Vĩ, một số bị lừa bán sang Trung Quốc. Họ là những người không có địa vị, tên tuổi, thậm chí không được tôn trọng trong xã hội.

Đối với xã hội và các nghiên cứu khoa học, họ là nhóm không có tiếng nói, dễ bị lợi dụng và trở thành nạn nhân của tệ nạn buôn bán phụ nữ, nạn nhân của cuộc đời và của xã hội. Tuy nhiên, khác với cái nhìn từ ngoài vào thì cái nhìn từ bên trong lại thấy họ năng động, làm chủ đời sống, biết cách sắp xếp và không xem mình là nạn nhân. Thay vì không có tiếng nói, họ chủ động với những câu chuyện kể về đời mình và đã từng tiếp xúc với các nhà báo. Nghiên cứu này dựa trên những câu chuyện cuộc đời của những người phụ nữ trực tiếp kể cho nhà nghiên cứu nghe trong những chuyến điền dã dài ngày, sau đó trở lại thăm họ và trở thành những người bạn thân thiết. Nghiên cứu này có ý nghĩa trong việc nghiên cứu về thân phận người phụ nữ, người Việt Nam ở nước ngoài mà còn đóng góp vào nghiên cứu giới, quan hệ xã hội và lĩnh vực nghiên cứu xuyên biên giới.

Cơ sở lý luận

Câu chuyện sẽ được nhắc đến những cá nhân quan trọng, có đóng góp cho lịch sử (lịch sử của những sự kiện quan trọng), cách hiểu này lờ đi cuộc sống của những người đàn ông và phụ nữ bình thường, đặc biệt là phụ nữ. Gần đây, những nghiên cứu của Nhân học với những quan tâm mới đến đời sống của những người đàn ông và phụ nữ bình thường. Gần đây, đời sống của người phụ nữ Việt Nam trở thành một chủ đề thu hút nhiều ngành nghiên cứu, trong đó có xã hội học, nhưng người phụ nữ cũng chỉ là khách thể nghiên cứu chứ không phải là chủ thể của những câu chuyện cuộc đời của chính họ. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam, ít người phụ nữ ghi lại cuộc đời mình một cách liên tục, cùng lắm chỉ ghi những sự kiện quan trọng. Từ thực tế của ngành khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu về tự truyện, xem tự truyện như một nguồn thông tin quan trọng trong nghiên cứu khoa học xã hội vẫn còn khiêm tốn và cũng chủ yếu dừng lại ở tự truyện của các danh nhân. Những câu chuyện cuộc đời được xem là nguồn tư liệu có giá trị để hiểu về cuộc đời của những chủ thể văn hoá đó và thông qua cuộc đời của họ có thể hiểu về xã hội. Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là một ví dụ điển hình về cách hiểu đa diện hơn về cuộc sống, tình yêu, lý tưởng của những người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh…


TS. Nguyễn Ngọc Thơ chia sẻ thêm về nghiên cứu này tại Trung Quốc. Ảnh: Việt Thành

Những cuộc đời không tiếng nói…

Những người lấy chồng tại Vạn Vĩ quen kể đời mình theo kiểu kê khai lý lịch, theo kiểu khi xin đi học, đi làm chia ruộng đất hay trong các cuộc điều tra nhân khẩu… chưa bao giờ ghi lại nhật ký, lưu truyền vì chưa bao giờ nghĩ đến, với cách nghĩ “đời tôi có gì mà nói, cứ làm cứ sống vậy thôi”. Những con người có địa vị thấp trong xã hội cũng có ít cơ hội kể về cuộc đời mình. Từ câu chuyện cuộc đời của người phụ nữ Việt Nam có nét tương đồng với câu chuyện cuộc đời của người phụ nữ Ấn Độ của Spivak Gayatri khi họ được xem không có tiếng nói trong xã hội đúng nghĩa. Để hiểu hết những câu chuyện cuộc đời của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ở Vạn Vĩ, nhà nghiên cứu xác định vấn đề nghiên cứu và xuất hiện với tư cách là một người bạn để hiểu biết về cuộc sống thực sự của họ trong quá trình chứ không phải chỉ là những phần nhỏ trong thời gian ngắn ngủi. 

Nghiên cứu về cuộc đời những người ngoài lề xã hội giúp chúng ta hiểu biết hơn về xã hội đó và cũng giải thích rõ hơn về cuộc sống của những con người trong dòng chảy chính của xã hội đó. Lịch sử cuộc đời thường bắt đầu bằng hồi ức cá nhân, nhưng những hồi ức như vậy luôn được tạo ra bởi con người như là thành phần của một nhóm xã hội. Những câu chuyện kể đó không chỉ làm sáng tỏ những sự kiện có tính lịch sử đặc biệt đối với cá nhân mà còn chứa đựng những thông tin rộng hơn để nói với chúng ta về bản tính và những trải nghiệm của con người, từ đó có thể hiểu về lịch sử, xã hội và văn hoá.

Sự hồi tưởng và tạo dựng câu chuyện…

Không dừng lại ở chỉ nghe cuộc đời theo kiểu kê khai lý lịch, mà nghiên cứu còn tìm hiểu cách người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ở Trung Quốc, họ thể hiện mình và muốn người khác hiểu về mình, đó là một hình thức tạo dựng bản sắc cá nhân mà một số nhà nghiên cứu đã quan tâm. Bằng cách phân tích mối quan hệ giữa cá nhân kể chuyện và người nghe, giữa hiện tại và quá khứ, giữa cá nhân và xã hội, giữa những câu chuyện và sự thực hành để rồi khẳng định những câu chuyện cuộc đời có vị trí quan trọng trong việc hình thành nên bản sắc cá nhân. Câu chuyện cuộc đời không đơn giản là sắp xếp lại những tập hợp các yếu tố nhất định, mà người kể luôn luôn thay đổi các yếu tố, thêm vào vài chi tiết và xoá đi vài chi tiết, nhấn mạnh vào một vài chi tiết, quên đi một vài chi tiết. Những người ở phụ nữ Việt Nam ở Vạn Vĩ biết chủ động câu chuyện cuộc đời mình, ví dụ khi nói về cuộc sống ở Vạn Vĩ đối với gia đình ở Việt Nam thì họ lờ đi cuộc sống khó khăn mà nhấn mạnh đến những điểm tốt của người chồng Trung Quốc, với quan chức địa phương thì họ nhấn mạnh đến đời sống khó khăn mà lơ đi các phương cách làm ăn hay những sự đi lại không hợp pháp qua biên giới. Nếu quên đi câu chuyện bình thường trong xã hội chính là những trải nghiệm cá nhân quan trọng để hiểu quá khứ.

Phụ nữ Việt Nam đã đối mặt với sự tưởng nhớ và lãng quên trong quá khứ và hiện tại như thế nào, những hồi ức của họ được định hình và chi phối bởi những hồi ức của cộng đồng, sự nhớ và quên của cộng đồng. Chính điều đó đã khiến cho những hồi ức cá nhân của họ ít khi được chia sẻ hay được xem là nguồn thông tin hữu ích để tìm hiểu quá khứ. Người phụ nữ Việt lấy chồng ở Vạn Vĩ đối mặt với cuộc sống vất vả nơi đất khách, cuộc đời gánh nặng lo toan, hiếm có cơ hội chia sẻ những câu chuyện quá khứ của mình một cách chi tiết, và rồi cũng giống như nhiều phụ nữ nông thôn khác, những mốc thời gian trong quá khứ được họ xác định một cách mơ hồ như “dạo đó”, “hồi ấy”… Từ đó những người phụ nữ quên điều gì, nhớ điều gì, họ muốn chia sẻ điều gì, không muốn chia sẻ điều gì trong cuộc đời của họ chính là quá trình họ tạo dựng bản sắc riêng, tiếng nói riêng để quá đó nhà nghiên cứu hiểu được cuộc sống của họ mà còn hiểu bối cảnh và những ràng buộc văn hoá, xã hội xung quanh những câu chuyện về cuộc đời họ.

Những câu chuyện cuộc đời trong sự đối thoại…

Từ câu chuyện của những người phụ nữ, nhà nghiên cứu còn tập trung vào chuyện kể của gia đình, một dòng họ, một nhóm người nào đó, chính điều này đã làm cho “những câu chuyện cá nhân” trở thành một khái niệm rộng. Từ đó, nhà nghiên cứu chọn cách đối thoại trong câu chuyện của người phụ nữ lấy chồng ở Vạn Vĩ, còn có sự xuất hiện của tôi với tư cách là người nghe, phân tích, bàn luận sắp xếp và viết lại những câu chuyện đó. Bên cạnh giọng nói của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ở Vạn Vĩ nhà nghiên cứu còn ghi lại cả giọng nói của các thành viên trong gia đình họ và một người khác có mối quan hệ gần gũi với họ.

5 câu chuyện cuộc đời người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ở Vạn Vĩ, đến từ các vùng khác nhau, lứa tuổi khác nhau và con đường đến làng Vạn Vĩ lấy chồng cũng khác nhau đã góp phần tạo dựng diện mạo câu chuyện cuộc đời. Con đường đến Vạn Vĩ đều có hoàn cảnh gia đình nghèo, đông anh em, cha mẹ mất sớm, làm nông nghiệp và ngư nghiệp. Hoàn cảnh cá nhân thì họ quá tuổi lấy chồng ở quê, trục trặc trong chuyện tình yêu, không được học hành, không có mối quan hệ xã hội rộng trong hay hay ngoài xã hội hoặc bị mang tiếng với dân làng (một yếu tố nặng nề ở làng quê khiến cho người phụ nữ khó lấy chồng ở quê). Bối cảnh xã hội với nhiều phong tục tập quán ở làng: trách nhiệm của con cái, sự bó buộc hay sự phân biệt đối xử đối với người phụ nữ ở làng quê làm cho những người phụ nữ này thôi thúc rời khỏi làng. Những cô gái muốn đi khỏi làng vì những mục đích như muốn thoát nghèo, giúp đỡ gia đình về kinh tế, thoát khỏi dư luận xã hội của làng, nhất là sự đánh giá khắt khe với phụ nữ; hy vọng có đời sống tốt hơn để có thể quay về làng cải thiện vị trí và tiếng nói của mình – với mục đích lấy chồng nước ngoài, ở đây lấy chồng Trung Quốc giống như là giải pháp giúp họ thực hiện nhưng mong muốn của bản thân.


TS. Huỳnh Ngọc Thu, Trưởng Khoa Nhân học tặng hoa cho diễn giả. Ảnh: Việt Thành

Chân dung người chồng vì hoàn cảnh nghèo, hoàn cảnh đặc biệt về thể chất, gia đình, goá vợ, đã có con, tính tình và hình thức có vấn đề. Hầu hết làm biển hoặc công việc lao động chân tay đơn giản, không có học hành, không lấy được vợ Trung Quốc, do chính sách một con và sự lựa chọn sinh con trai, phần khác điều kiện kinh tế quá nghèo để chi trả cho đám cưới theo phong tục Trung Quốc. Thông qua mai mối họ lấy vợ Việt Nam, họ cần vợ, cần con nên thường họ cố gắng để lấy được vợ và có con ngay sau đó. Họ không muốn vợ con quay về Việt Nam vì họ lo lắng vợ con không ở lại với họ.

Còn đó nhiều nổi lo âu đến từ cuộc sống ở Trung Quốc và còn cả định kiến ở Việt Nam, chân dung người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc mang lại nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ đến từ vấn đề văn hoá, kinh tế, nhưng cốt lỏi, vấn đề văn hoá và các rào cản xã hội khiến cho những người phụ nữ này phải ra đi. Sự ra đi hay nói cách khác quá trình di cư khỏi làng và thách thức của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam hiện nay.

Buổi toạ đàm nhận được câu hỏi, bình luận và chia sẻ về phương pháp nghiên cứu điền dã nhân học của PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm đã thực hiện từ các nhà nghiên cứu đến từ Khoa Xã hội học. Phương pháp nghiên cứu định tính, hay cách thực hiện điền dã một thuần thục được chia sẻ một cách cụ thể, giúp các bạn sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh có những kinh nghiệm để thực hiện các nghiên cứu của mình.

Phòng QLKH-DA
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.